article-image

NHỮNG NỖ LỰC ĐẦU TIÊN ĐỂ ĐƯA KITÔ GIÁO VÀO VIỆT NAM

Phanxicô Xavie, khi ra đi sang Trung Quốc (nhưng không vào được), đã để lại ở Nhật Bản non một ngàn tín hữu; trong vài năm, số người theo đạo không tăng; các cuộc nội chiến tàn phá đất nước và không thuận lợi cho việc truyền giáo. Đoạn vào năm 1563, Omura Sumitada, vị đầu tiên trong giới Đaimyô (lãnh chúa), xin nhận phép Rửa; nhiều vị khác theo gương ông, trên các đảo Gôtô và Amakusa. Trên đảo Honđô, Kitô giáo tạo sức quyến rũ mạnh, nhất là trong các tỉnh trung tâm đảo. Các nhà sư, Samourai, Đaimyô đua nhau theo đạo; và khi Oda Nobunaga lên cầm quyền năm 1568, ông rộng tay che chở các Kitô hữu.

Sau khi ông qua đời năm 1582, các Cha Dòng Tên cũng gặp được một cảm tình nồng hậu như thế nơi vị vua mới, Toyotomi Hideyoshi; vị đại đô đốc hải quân và vị tướng lãnh kỵ binh cũng xin theo đạo. Vào năm 1575, đã có từ 50 đến 60 ngàn tân tòng trên lãnh thổ do Omura cai trị; con số Kitô hữu tăng lên từ 200 đến 300 ngàn, khi đột nhiên ngày 24.7.1587, Hideyoshi ban hành sắc chỉ ra lệnh cho tất cả mọi người Bồ phải rời khỏi Nhật Bản trong vòng 20 ngày. Sở dĩ có biện pháp này là vì những lý do chính trị trong nước cũng như ngoài nước, nhưng cũng còn những lý do khác khó nói hơn: nhà vua không chấp thuận luân lý khắt khe của Kitô giáo đối với các cung phi mỹ nữ của Vua. Cái lý do bách hại Đạo bắt nguồn từ đời sống tư riêng của các vua chúa, quan lại, giữ vai trò quyết định thái độ của họ đối với niềm tin Kitô giáo. Điều này cũng sẽ xảy ra ở Việt Nam như vậy. Nhưng vấn đề ‘chốn thâm cung‘ đã xen vào lịch sử, cả trong công cuộc mở rộng niềm tin Kitô giáo, và tạo nên những trở ngại đáng kể. Hồi giáo, với nền luân lý của nó, đã không gặp phải những khó khăn riêng biệt của nền luân lý Kitô giáo.

Dù gì, các Kitô hữu tử đạo đầu tiên của Nhật Bản đã đổ máu ngày 5.2.1597 tại Nagasaki, trong một cuộc đóng đinh tập thể vào Thập Giá. Tuy nhiên đó chưa phải là dấu hiệu của cuộc bách hại toàn diện; người Nhật vẫn còn tiếp tục mê chuộng những sản phẩm Tây phương.

Việc Tokugawa Ieyasu lên ngôi và chiến thắng con của Hideyoshi trong trận chiến ở Sekigahara ngày 15.9.1600, đưa tới những hậu quả quan trọng, ít nữa là về lâu về dài. Ngay từ ngày đầu, kẻ chiến thắng đã quyết định cấm đạo Kitô, nhưng ông ta còn nể nang nhiều vị đaimyô có đạo, và xứ sở ông ta còn hưởng nhiều nguồn lợi trong việc trao đổi thương mại với phương Tây; cho nên ông ta còn chờ một cơ hội thuận tiện để đánh mạnh một lần.

Trước khi thực hành, ông ta cũng để lộ cho thấy ý định và xúi giục một phong trào bỏ đạo trong giới quý phái thượng lưu. Đoạn, vào tháng 10.1613, ông ra lệnh trục xuất các nhà truyền giáo, Nhật cũng như ngoại quốc; tất cả các nhà thờ Kitô giáo bị đóng cửa và phải bị tàn phá; các tín hữu phải lựa chọn giữa bỏ Đạo và chết; một cuộc đàn áp mạnh bạo bắt đầu và kéo dài cho đến khi Kitô giáo hoàn toàn bị loại trừ khỏi nước Nhật. Theo một sự lượng định được xuất bản ở Rôma năm 1646, có khoảng 1450 tử đạo, nhưng con số này có vẻ còn kèm xa sự thật; theo những cuộc điều tra cặn kẽ hơn, con số có thể nhân lên gấp ba; người ta biết chắc chắn có 3171 Kitô hữu chết vì bị tra tấn, 874 chết rũ tù, hay vì hậu quả bị cầm tù; không tín đồ nào thoát khỏi bị quấy nhiễu.

Cũng còn phải kể đến những nạn nhân của cuộc đàn áp tiếp theo sau cuộc nổi loạn ở Shimabara (1637 – 1638); lý do cuộc nổi dậy không phải tôn giáo, nhưng bắt nguồn từ những hành vi bóc lột, sách nhiễu của vị đaimyô địa phương trong một vùng dân cư phần đông là Kitô hữu. Quân đội đã được sai đến để tái lập trật tự; họ nhận lệnh tha chết cho những ai xưng mình không Kitô giáo; những người khác, đàn ông, đàn bà, trẻ con, độ 35.000 bị tàn sát, chẳng trừ một ai.

Nhiều khu kiều bào Nhật Kitô giáo thành hình ở các nước ngoài; họ bỏ nước ra đi để có được tự do giữ đạo: họ đến cư ngụ tại Faifo ở Nam Kỳ, PnomPenh ở Campuchia, tại Ayuthia ở Xiêm La…Và dĩ nhiên, các nhà thừa sai Âu Châu, bị trực xuất khỏi Nhật Bản, cũng tìm cách đến cùng ở bên cạnh họ để nâng đỡ họ về mặt thiêng liêng.

Chính như thế mà Cha Buzomi, linh mục Dòng Tên quê Napoli, và Cha Carvalho, người Bồ, đã khởi đầu công việc tông đồ của họ bên cạnh những Kitô hữu Nhật tại Đà Nẵng (Tourane), Việt Nam, vào dịp lễ Phục Sinh năm 1615.

Cùng với 2 linh mục Dòng Tên, có 3 tu sĩ tháp tùng, 2 Nhật, 1 Pháp, để trợ giúp các ông; như thế, việc du nhập Kitô giáo vào Việt Nam trở thành cụ thể hơn.

Từ năm 1616, các linh mục đã quy tụ được quanh các ông độ 400 tân tòng và Cha Cha Buzomi đã thu phục được thiện cảm và sự che chở của một quan thống đốc được vua tin nghe. Ở Macao, một thương điếm Bồ ngoài khơi Trung Quốc, có ít nữa, 65 vị thừa sai Dòng Tên bị trục xuất khỏi Nhật và tạm thời chưa có nhiệm vụ; 2 vị trong họ đến nhập đoàn với các thừa sai ở Việt Nam. Trong 10 năm hoạt động, đoàn chiên nhỏ của họ được khoảng 2000 tín hữu ở Nam Kỳ.

Bắc Kỳ, trước khi không cho Cha Ordonnez vào, cũng mở cửa năm 1626 cho các vị Dòng Tên ở Macao, 2 vị đến nghiên cứu tại chỗ tìm phương cách vào Trung Quốc, vì, kể từ Thánh Phanxicô Xavie, nước này trở thành mục tiêu chính của các vị thừa sai, và cần phải tìm cách vượt qua các lệnh cấm truyền giảng Tin Mừng tại đó.

Thay vì tìm được lời giải đáp cho vấn đề họ đang cố công giải quyết từ ¾ thế kỷ, Cha Baldinotti, người Ý quê ở Pistoie, được chúa Trịnh Tráng ở Hà Nội tiếp đón. Hậu ý của chúa, khi tiếp đón vị thừa sai, là tìm mở mang thương mại với nước ngoài, và sự hỗ trợ quân sự của người Bồ ở Macao.

Cha Baldinotti kể lại ngày ngài được mời dự một buổi trình diễn kịch lộ thiên; ngài được xem một màn diễn tả cách hài hước phép Rửa Kitô giáo dưới hình thức một cuộc “tái sinh” ở trong cái bụng phệ một người Bồ béo phì.

Linh mục Dòng Tên này chưa biết tý nào về ngôn ngữ; sứ mạng của ông chỉ là thăm dò đường đất. Do đó, các Bề trên ở Macao gửi thêm 2 Linh Mục Dòng Tên khác sang Bắc Kỳ năm 1627: Cha Phêrô Marquez và Cha Alexandre de Rhodes  (Đắc Lộ). Cha này đã được gửi sang Nam Kỳ vào cuối năm 1624 cùng với một nhóm 5 tu sĩ; trước đó, ngài được chỉ định di truyền giáo ở Nhật Bản. Trong vòng 3 tuần, Cha Đắc Lộ, nhờ một thanh niên giúp đỡ, bắt đầu làm quen được với “mọi giọng nói và mọi cách phát âm tất cả các tiếng”. Hiển nhiên, ngài chưa có thể biết thông thạo tiếng Việt, nhưng nói được là ngài có lỗ tai làm sẵn để nghe Tiếng Việt; quả thực, ngài có năng khiếu lạ lùng để học các ngoại ngữ và những đức tính nhân bản khác đã giúp ngài giao tiếp dễ dàng với những người xa lạ nhất. Đối với một vị thừa sai, đó là những đức tính quý báu, và giải thích sự thành công trong công việc truyền giáo của ngài.

Tuy nhiên, thời gian đầu ở Nam Kỳ của ngài từ 1625 đến 1626, gặp nhiều xáo trộn. Chúa Sái Vương đã già, gây nhiều khó khăn, cấm các Kitô hữu không được nghỉ ngày Chúa Nhật, cấm mọi thứ ảnh tượng đạo, quản thúc các nhà truyền giáo tại Hội An, cấm các ngài không được ra khỏi đó. Cha Đắc Lộ cảm thấy thoải mái hơn các bạn đồng nghiệp trong môi trường Việt Nam, nhưng cũng tỏ ra không mấy dễ dàng tuân thủ các lệnh của chúa; năm 1626, ngài được gọi về Macao, vì không còn “đẹp lòng chúa” nữa.

Ở Bắc Kỳ, cha ĐắcLộ được nhiều may mắn hơn. Ngài 19.03.1627, chiếc tàu chở ngài cập bến “gần một thành phố đẹp”. Ngài bắt đầu rao giảng ngay tại chỗ. Ngài được quan cho phép dựng một cây Thập Giá trên đỉnh đồi nhìn xuống cửa khẩu. Một cuộc rước kiệu với thành phần nồng cốt là các thủy thủ Bồ trên tàu; những người Việt hiếu kỳ cũng đi theo. Đó cũng là một dấu hiệu tốt cho công cuộc truyền giáo tương lai.

 

Comments

No comments yet.

Nickname:
E-mail:
Homepage:
Comment:
 Add your comment